Chu Nguyên Chương hỏi vận nước, lão Đạo sĩ nói 4 chữ, hơn 200 năm sau ứng nghiệm

Chu Nguyên Chương đột nhiên toát mồ hôi lạnh, lão Đạo sĩ này làm sao biết thân phận mình nhỉ? Bây giờ đã bị nhận ra rồi, nên Chu Nguyên Chương lập tức đi thẳng vào chủ đề: “Ta đến đây để hỏi ông vận khí nhà Minh sẽ như thế nào? Lộc nước còn bao nhiêu năm nữa?”

Trạng nguyên cưới 2 con gái tể tướng, 3 lần đứng đầu thiên hạ

Phùng Kinh (1021-1094), tự Đương Thế, là người Giang Hạ, Ngạc Châu triều Tống. Trong các cuộc thi khoa cử, ông thi đỗ liền Tam nguyên, cưới 2 con gái tể tướng. Ông đã lưu lại giai thoại “Cưới 2 con gái tể tướng, 3 lần đứng đầu thiên hạ”. Vị trạng nguyên 3 lần đứng đầu thiên hạ này có lai lịch rất kỳ lạ độc đáo.

Con số “huyền cơ” trong Phật gia, Đạo gia, và Tứ đại danh tác

Có những con số rất bình thường trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, nhưng trong cổ thư và các kinh điển của hai gia Phật, Đạo, chúng lại mang nội hàm thâm sâu thần bí. Dường như những con số ấy ẩn chứa thiên cơ và có mối liên hệ kỳ diệu với vũ trụ của chúng ta. 

Tại sao từ tể tướng hiển vinh lại trở thành kẻ giang hồ

Trong “Tùy Đường diễn nghĩa” có một vị đại anh hùng tên là Tần Quỳnh. Ông “cưỡi ngựa đạp hai bờ Trường Giang, dùng cây giản đánh 108 huyện 6 phủ 9 châu Sơn Đông, uy chấn nửa bầu trời Sơn Đông”. Ông đã lập nhiều chiến công cho Đại Đường, và là 1 trong 24 công thần được thờ ở Lăng Yên Các. Dân gian thờ ông làm Môn Thần. Bởi ông tính tình hào sảng, giúp người khốn khổ nguy nan, thích kết giao với những anh hùng hảo hán tam giáo cửu lưu, bằng hữu khắp thiên hạ, nên mọi người tặng ông biệt hiệu là Tiểu Mạnh Thường.

Tần Quỳnh hào hiệp như thế này mới được mọi người gọi là Tiểu Mạnh Thường, thế thì Mạnh Thường Quân thực sự là nhân vật như thế nào?

Sinh ra bị cha ruồng bỏ

Mạnh Thường Quân là một trong 4 công tử nổi tiếng nhất thời Chiến Quốc, ông tên là Điền Văn, phong hiệu Mạnh Thường Quân. Phụ thân ông là Tĩnh Quách Quân Điền Anh, là tông thất của nước Tề, khi đó đã có hơn 40 người con trai rồi. Mẫu thân của Điền Văn là một tiểu thiếp của Điền Anh, sinh ra Điền Văn vào ngày 5 tháng 5.

Khi Mạnh Thường Quân được sinh ra, phụ thân Điền Anh lại không hề vui mừng một chút nào, trái lại, ông còn nói với mẫu thân Mạnh Thường Quân rằng: “Vứt đứa bé này đi, không được nuôi dưỡng nó”.

Nhưng mẫu thân của Mạnh Thường Quân vẫn lén nuôi nấng cậu. Khi Mạnh Thường Quân lớn lên một chút, mẫu thân thông qua những huynh đệ của Mạnh Thường Quân dẫn cậu đến gặp phụ thân Điền Anh.

Thấy Mạnh Thường Quân, Điền Anh tức giận nói với mẫu thân cậu rằng: “Ta bảo cô đem đứa trẻ này vứt đi, cô lại dám nuôi dưỡng nó là sao?”

Mẫu thân Mạnh Thường Quân còn chưa trả lời thì Mạnh Thường Quân đã nhanh chóng khấu đầu trước phụ thân, sau đó hỏi phụ thân rằng: “Thưa phụ thân đại nhân, phụ thân không cho mẫu thân nuôi dưỡng con, đứa trẻ sinh vào tháng 5, là vì sao?”

“Thưa phụ thân đại nhân, phụ thân không cho mẫu thân nuôi dưỡng con, đứa trẻ sinh vào tháng 5, là vì sao?” (Epoch Times)

Điền Anh trả lời: “Hừm, ngươi là đứa trẻ sinh tháng 5, đến khi lớn lên cao bằng nóc cổng, thì trong mệnh chú định khác phụ hại mẫu”.

Nghĩa khí giúp trừ bỏ thiên kiến của phụ thân

Mạnh Thường Quân nghe xong, thong thả nói: “Thế thì xin hỏi phụ thân đại nhân, vận mệnh con người là do Trời ban hay do nóc cổng quyết định?”

“Cái này… cái này… cái này…” – Điền Anh nhất thời tắc họng, lắp ba lắp bắp không biết trả lời thế nào.

Mạnh Thường Quân nói tiếp: “Nếu vận mệnh do Trời ban cho, thì phụ thân hà tất phải lo lắng? Nếu là do nóc cổng quyết định, thế thì chỉ cần nâng cao cổng lên một chút, chẳng phải là giải quyết được rồi đó sao, sao có thể cao đến mức đó được”.

Điền Anh không có lời nào đối đáp lại được, hổn hển quát mắng: “Nhóc con, câm miệng”.

Một lát sau, Mạnh Thường Quân nói: “Thưa phụ thân đại nhân, phụ thân nắm đại quyền, đảm nhận chức Tể tướng nước Tề, đến nay đã trải qua 3 đời quân vương, có thể nói là bậc nguyên lão nước Tề. Nhưng lãnh thổ nước Tề không mở rộng thêm chút nào, mà tài sản nhà ta tại tích trữ vạn lượng vàng, môn hạ lại chẳng có một kẻ sĩ hiền năng”.

“Thưa phụ thân đại nhân, thê thiếp của phụ thân có thể tùy ý mặc lụa là, mà hiền sĩ thì ngay cả áo ngắn vải thô cũng không có mà mặc. Nam bộc nữ tỳ của phụ thân ăn thịt không hết, còn những hiền sĩ thì ăn cám, rau cũng không đủ no. Phụ thân vẫn còn ra sức vơ vét tài sản, muốn để lại cho con cháu đời sau, mà quên rằng quốc gia đang ngày ngày thất thế sa sút. Than ôi, là người làm con, con cũng cảm thấy rất lạ thường”.

Chà, một đứa trẻ mới tí tuổi đầu mà lại có tầm nhìn như thế này, quả là niềm hy vọng của gia tộc họ Điền nhà ta. Từ đó, Điền Anh thay đổi thái độ với Mạnh Thường Quân, bắt đầu coi trọng cậu, để cậu chủ trì gia chánh, tiếp đãi tân khác. Dưới sự trị sửa của Mạnh Thường Quân, tân khách nhà họ Điền ngày càng nhiều, danh tiếng của Mạnh Thường Quân cũng lan truyền đến khắp các nước chư hầu. 

Lễ hiền đãi sĩ

Các nước chư hầu đều phái người đến nói giúp cho Mạnh Thường Quân, thỉnh cầu Điền Anh lập Mạnh Thường Quân làm thế tử. Điền Anh trong tâm cũng rất vui mừng, nên đã đồng ý. Sau khi Điền Anh qua đời, Mạnh Thường Quân kế thừa tước vị của Điền Anh, tức Tiết Công, thực ấp là Tiết Thành (ở địa phận Táo Trang, Sơn Đông ngày nay).

Mạnh Thường Quân ở Tiết Thành, không ngừng chiêu mời tân khách các chư hầy, rất nhiều người tới tấp quy về với ông. Mạnh Thường Quân khảng khái lấy tài sản gia đình ra cấp cho họ đãi ngộ hậu hĩ, vì vậy các hiền sĩ trong thiên hạ ai nấy đều dốc lòng đến với ông. Thực khách của ông đến mấy ngàn người, đãi ngộ không phân biệt sang hèn, tất cả đều giống như với Mạnh Thường Quân. Mỗi khi Mạnh Thường Quân tiếp đãi tân khác, khi ngồi đàm đạo cùng tân khác, ông đều sắp xếp thị sử ở sau bình phong, để họ ghi chép lại nội dung trò chuyện của Mạnh Thường Quân với các tân khách, ghi chép nơi cư trú của người thân các tân khách. Khi tân khách vừa mới rời đi, Mạnh Thường Quân liền phái sứ giả đến nhà người thân của tân khách vỗ về thăm hỏi, dâng lễ tặng.

Một lần, Mạnh Thường Quân chiêu đãi tân khách ăn cơm tối, có người vô ý che khuất chiếc đèn bên cạnh Mạnh Thường Quân. Một trong số các tân khách trông thấy thì nổi giận, cho rằng Mạnh Thường Quân ăn món ăn riêng, khác với họ. Thế là vị tân khách đó bực tức đặt bát cơm xuống, chắp tay từ biệt ra đi. Mạnh Thường Quân vội vàng đứng lên, đích thân đem bát cơm của mình đến so sánh với bát cơm của ông ta. Vị tân khách này xấu hổ quá không biết chui vào đâu, lập tức rút kiếm đâm vào cổ tự tử.

Đối với các môn khách tìm đến, Mạnh Thường Quân đều nhiệt tình tiếp nhận, không kể thân sơ, đều dành cho sự đãi ngộ hậu hĩ như nhau.

Đối với các môn khách tìm đến, Mạnh Thường Quân đều nhiệt tình tiếp nhận, không kể thân sơ, đều dành cho sự đãi ngộ hậu hĩ như nhau.(Epochtime)

Thơ văn người đời sau thường lấy Mạnh Thường Quân để ví người thân ở ngôi vị cao mà vẫn khiêm tốn, lễ hiền đãi sĩ.

Người đất và người gỗ

Tần Chiêu Vương nghe nói Mạnh Thường Quân hiền năng, thì mời Mạnh Thường Quân đến nước Tần nhậm chức. Mạnh Thường Quân cảm động thành ý của Tần Chiêu Vương, chuẩn bị đi đến nước Tần, nhưng các tân khách đều không đồng ý, khuyên ngăn ông.  Họ cho rằng, nước Tần hùng cứ một phương, địa thế hiểm ác, là đất thị phi, e rằng đi sẽ lành ít dữ nhiều, nên họ tới tấp khuyên can.

Người đến khuyên can nhiều quá, Mạnh Thường Quân nổi giận, đuổi hết môn khách ra ngoài, đóng cửa không tiếp. Các môn khách không làm gì được, ai lấy đều lòng như lửa đốt. Trong các môn khách, có người tên là Tô Đại, huynh trưởng của ông ta là Tô Tần danh tiếng lẫy lừng. Tô Đại dự tính tự mình đi khuyên cam Mạnh Thường Quân. Các môn khách nghe vậy đều lắc đầu: “Huynh đài, hà tất phải tự tìm lấy sự khó chịu, ông ấy không tiếp huynh đâu”.

Tô Đại không để ý, đến phủ Mạnh Thường Quân, gõ cửa cầu kiến. Mạnh Thường Quân nghe nói lại có môn khách đến thăm, liền cự tuyệt không tiếp. Thế là Tô Đại thỉnh cầu người hầu chuyển lời cho Mạnh Thường Quân rằng, ông đến không phải vì việc nước Tần. Một lát sau, Mạnh Thường Quân xuất hiện, mở miệng liền nói: “Có việc gì ông nói đi”.

Tô Đại nói: “Chúa công, hôm qua tôi ở bên ngoài thành đi gấp về nhà, trên đường qua một khu rừng, nghe có 2 người nói chuyện. Nhờ ánh trăng, tôi thấy, thì ra là một người gỗ đang nói với một người đất. 

Người gỗ nói: chúng ta ở nơi này, nói cười vui vẻ, nếu trời đổ mưa lớn, nước lũ dâng nhanh, thì cái thân bằng đất của anh bị ngập nước, e rằng không giữ được.

Người đất nghe được câu này thì tức giận trừng mắt nhìn người gỗ và nói: Tô gặp mưa bão, nhiều nhất thì cũng chỉ hóa thành bùn đất, còn anh nếu bị nước lũ cuốn đi mất tích, chẳng phải thê thảm hơn sao”.

Tô Đại chuyển đề tài: “Chúa công, ngày lần này đến nước Tần, một nước hổ báo thế này, giống như người gỗ gặp nước lũ vậy, xin hãy suy nghĩ kỹ”.

Mạnh Thường Quân nghe vậy thì bỗng bừng tỉnh ngộ. Thế là tạm thời từ bỏ ý tưởng đến nước Tần. 

Trộm chó gà gáy

Tần Chiêu Vương thấy Mạnh Thường Quân mãi không có động tĩnh, thì không cam lòng, liên tiếp đưa ra lời mời, đồng thời cam kết bổ nhiệm ông làm tể tướng nước Tần. Để xóa tan nghi kỵ trong lòng Mạnh Thường Quân, thậm chí còn phái vương đệ là Kinh Dương Quân đến nước Tề làm con tin. 

Cuối cùng, Mạnh Thường Quân không chống nổi sự nhiệt tình của Tần Chiêu Vương, nên đã không nghe theo khuyên can nữa, đến nước Tần. 

Tần Chiêu Vương vui mừng quá mong đợi và không nuốt lời, quả nhiên bổ nhiệm Mạnh Thường Quân làm Tể tướng nước Tần. Nhưng cảnh đẹp thường không lâu dài, trong quần thần có người đố kỵ Mạnh Thường Quân, bắt đầu nói bóng nói gió với Tần Chiêu Vương: “Đại vương, Mạnh Thường Quân quả thực có tài năng, nhưng ngài chớ quên ông ta là tông thất nước Tề. Ông ấy làm tể tướng nước Tần, ắt sẽ tính toán, mưu định sách lược cho nước Tề. Đến lúc đó, nước Tần chúng ta sẽ nguy hiểm”.

Nghĩ đến đây, Tần Chiêu Vương lập tức bãi miễn Mạnh Thường Quân, và bắt giam ông, dự định sẽ giết Mạnh Thường Quân để trừ hậu hoạn.

Mạnh Thường Quân thấy rõ tình cảnh của mình, ông vội vàng sai người cầu kiến một vị sủng thiếp của Tần Chiêu Vương, nhờ nói giúp cho mình. Người thiếp đó ra điều kiện, nói rằng mình muốn có được chiếc áo khoác da màu trắng thuần của Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân nghe thế thì buồn rầu, quả thực mình có cái áo da trắng thuần khiết này, trên đó không lẫn một chiếc lông tạp nào, trị giá ngàn lạng vàng. Nhưng vấn đề là khi đến nước Tần, ông đã dâng cho Tần Chiêu Vương rồi. 

Mạnh Thường Quân đang buồn rầu về chiếc áo khoác này, hỏi các tân khách, không ai có biện pháp nào cả. Đúng lúc này, trong đám đông người có một người nói một câu: “Đừng lo, việc này hãy để cho tôi”.

Mọi người quay đầu nhìn, thì ra người nói câu này là người tướng mạo bình thường, thường ngày cũng chẳng có năng lực gì. Mọi người tròn mắt nhìn, trong lòng thầm nghĩ, đến lúc nào rồi mà ngươi vẫn còn có tâm trạng ba hoa chích chòe thế này.

Vị môn khách này cũng không đáp lời, lấy ra một tấm da chó rồi khoác lên người, hóa trang thành một con chó, rồi chui vào trong kho trong cung vua Tần.

Không lâu sau, anh ta đã lấy trộm được chiếc áo khoác da đem về, giải nguy cho Mạnh Thường Quân. 

Người sủng thiếp có được chiếc áo khoác da trắng thuần tịnh thì vui mừng lắm, và thực hiện cam kết, bắt đầu nói bóng gió bên gối Tần Chiêu Vương, không ngừng nói giúp cho Mạnh Thường Quân. Tần Chiêu Vương nghe bùi tai, bèn thả Mạnh Thường Quân ra. 

Người sủng thiếp có được chiếc áo khoác da trắng thuần tịnh thì vui mừng lắm, và thực hiện cam kết, bắt đầu nói bóng gió bên gối Tần Chiêu Vương, không ngừng nói giúp cho Mạnh Thường Quân. (Ảnh: Epoch Times)

Mạnh Thường Quân biết nước Tần là mảnh đất thị phi, không nên ở lại lâu, lập tức lên xe, đánh ngựa nhanh chóng chạy trốn khỏi nước Tần. Cuối cùng, đến nửa đêm thì chạy đến Hàm Cốc quan.

Thấy mình chạy thoát mạng chỉ còn một bước nữa thôi. Theo quy định, quân Tần canh giữ quan ải chỉ mở cửa quan khi trời đã lờ mờ sáng, nghe tiếng gà gáy thì mới mở cửa quan để hành khách qua lại. Lúc này đến khi trời sáng còn mấy canh giờ nữa.

Mạnh Thường Quân lo lắng, lúc này nếu Tần Chiêu Vương thay đổi chủ ý, sai quân đuổi theo thì làm thế nào, vì vậy lòng như lửa đốt. Đúng lúc nguy cấp này, trong đám tân khách lại có người lên tiếng: “Tôi có biện pháp”.

Mọi người quay đầu nhìn, cố nén bực tức, trong lòng thầm nghĩ, ở đây, chỉ có anh ta là chẳng có bản sự gì, là kém cỏi nhất, thử hỏi anh ta có biện pháp gì?

Vị tân khách này thấy mọi người không tin thì cũng không để ý, chỉ chụm miệng bắt chước tiếng gà gáy. Tiếng kêu của anh ta quả thật rất giống tiếng gà, tiếng gáy vang động. 

Sau khi anh ta giả tiếng gà gáy mấy hồi, liền sau đó, những con gà trống ở thôn trang lân cận cũng gáy theo, tiếng gà gáy nối tiếp nhau vang lên. Binh sĩ trấn giữ Hàm Cốc quan ai nấy đều đang ngủ mơ mơ màng màng, nghe thấy tiếng gà gáy, cho rằng đến giờ rồi, vội vàng dậy mở cửa thông quan. 

Khi quân Tần đuổi đến Hàm Cốc quan, Mạnh Thường Quân đã qua quan từ lâu rồi. (Tranh: Winnie Wang)

Lại nói, Tần Chiêu Vương sau khi tỉnh rượu thì định thần lại, hối hận vì đã thả Mạnh Thường Quân, vội vàng sai người đuổi theo. Khi quân Tần đuổi đến Hàm Cốc quan, Mạnh Thường Quân đã qua quan từ lâu rồi, đành hậm hực trở về.

Ban đầu, khi Mạnh Thường Quân tiếp nhận hai người này, mọi người đều cho rằng, họ là kẻ trộm gà trộm chó, vô học bất tài, cùng hàng ngũ với họ thì thật mất mặt. Hôm nay, khi Mạnh Thường Quân gặp kiếp nạn ở nước Tần, lại dựa vào hai người này để thoát thân, nên mọi người không ai còn xem thường kẻ trộm gà trộm chó nữa. Mọi người đều khâm khục Mạnh Thường Quân có tấm lòng rộng lớn, chiêu nạp rộng tân khách, không phân biệt cao thấp sang hèn. 

Thi nhân đời Tống Trịnh Tư Tiêu có thơ khen rằng: 

Áo da lông trắng việc khó lường
Môn hạ Mạnh Thường cũng vô phương
Không kẻ giả gà và giả chó
Nửa đêm vượt quan chẳng có đường

Đốt giấy nợ mua nghĩa khí

Nước Tề có một người tên là Phùng Huyên, trên người không có một xu, nghèo kiết xác, không cách nào tự nuôi sống mình, bèn đi giày cỏ từ phương xa tìm đến, muốn làm thực khách của Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân thấy vậy bèn hỏi: “Không biết tiên sinh có sở trường gì?”

Phùng Huyên trả lời đơn giản, thô thiển: “Thứ nhất, không có sở trường gì; thứ hai, cũng không có tài nghệ gì”.  

Nếu là người khác, không có sở trường lại không có tài nghệ gì thì cuốn xéo. Nhưng Mạnh Thường Quân vẫn cười và tiếp nhận ông. Những người hầu của Mạnh Thường Quân cho rằng, Phùng Huyên là kẻ ăn mày nghèo khổ, nên lấy cơm và đồ ăn thô đem cho ông ăn. 

Không lâu sau, Phùng Huyên dựa cột, dùng ngón tay gõ vào thanh kiếm dài của mình và hát: “Kiếm dài à, chi bằng về đi thôi, ở đây ăn cơm không có cá”.

Những người hầu nghe vậy thì coi đây là chuyện cười và kể lại với Mạnh Thường Quân. Không ngờ Mạnh Thường Quân lại nói: “Cho ông ấy ăn cá, hãy đối đãi với ông ấy theo tiêu chuẩn của môn khách”.

Không lâu sau, Phùng Huyên lại gõ thanh kiếm dài và hát: “Kiếm dài à, trở về đi, ra ngoài không có xe đi”.

Những người hầu đều cười ông, Mạnh Thường Quân nghe được chuyện này lại nói: “Hãy sắp xếp xe cho ông ấy theo tiêu chuẩn xe của môn khách”.

Phùng Huyên ngồi xe giơ cao thanh kiếm đi bái kiến bạn bè của mình và nói: “Mạnh Thường Quân giờ đây đã coi tôi như tân khách rồi”. 

Không lâu sau, Phùng Huyên lại gõ kiếm hát: “Kiếm dài à, trở về đi, ở đây không có cách gì nuôi dưỡng gia đình”.

Những người hầu đều cảm thấy rằng, Phùng Huyên lòng tham vô đáy, và bắt đầu chán ghét ông. Mạnh Thường Quân bèn hỏi: “Tiên sinh còn có phụ mẫu à?”

Phùng Huyên nói: “Ở nhà còn có mẹ già”.

Mạnh Thường Quân bèn phái người đem lượng lớn đồ ăn mặc cho mẹ Phùng Huyên, để bà không còn phải thiếu ăn thiếu mặc nữa.

Thế là từ đó, Phùng Huyên không còn hát nữa.

Một hôm, Mạnh Thường Quân ra thông báo, tìm người thay ông đến Tiết Thành thu nợ. Phùng Huyên đứng lên nhận việc này. Trước khi khởi hành, Phùng Huyên hỏi Mạnh Thường Quân rằng: “Thu nợ xong thì mua những thứ gì về?”

Mạnh Thường Quân nói: “Ông cứ xem xét rồi tự làm, xem nhà ta còn thiếu thứ gì thì ông hãy tùy ý mua một ít là được rồi”.

Thế là Phùng Huyên đến Tiết Thành, không ngờ ông chẳng đem một xu nào về, trái lại ông còn đốt hết tất cả những giấy nợ, xóa nợ cho tất cả các loại nợ. 

Bách tính địa phương vui mừng lắm, hô vang “Vạn tuế”.

Phùng Huyên rất nhanh chóng trở về, Mạnh Thường Quân hỏi: “Tiên sinh, lần này đi thu nợ thuận lợi chứ? Nhanh thế này đã trở về rồi. Ông đã mua thứ gì đem về?”.

Phùng Huyên trả lời: “Tôi thấy chúa công trong nhà đủ đầy, không thiếu thứ gì, do đó tôi chỉ mua giúp ngài một ít Nghĩa”. 

Mạnh Thường Quân hoàn toàn không hiểu: “Xin tiên sinh nói rõ thêm”.

Phùng Huyên trả lời rằng: “Chúa công, ngài không chăm lo yêu thương bách tính, lại tăng lãi cao, người dân khổ không nói hết. Tôi thay ngài ra lệnh đốt hết tất cả giấy nợ. Dân chúng hô vang “Vạn tuế”. Đây chính là mua ít Nghĩa cho ngài”.

Mạnh Thường Quân nghe xong, thấy cũng có lý, và cũng không nói gì.

Một năm sau, Tề Mẫn Vương cảm thấy uy tín của Mạnh Thường Quân quá cao, lo lắng sẽ đe dọa đến sự thống trị của mình, bèn lấy cớ “Quả nhân không dám lấy thần tử của tiên vương làm bề tôi của mình”, và tước bỏ chức vụ của Mạnh Thường Quân.

Mạnh Thường Quân đành phải ủ dột trở về phong ấp. Từ xa ông đã thấy bách tính đem theo những đồ ăn ngon đồ uống ngon, tràn ra kín đường nghênh đón ông. Lúc này Mạnh Thường Quân mớ bỗng tỉnh ngộ, mới hiểu rõ dụng ý của Phùng Huyên. 

Trong bài thơ “Cảm hoài”, Lưu Bá Ôn đã viết: 

Phùng Huyên khuyên mua nghĩa
Mạnh Thường thuận theo chăng?
Chiến Quốc còn như thế
Huống hồ thời Thương Chu.

Đọc tiếp

Hán Vũ Đế (Phần 7): Bảo vệ con đường tơ lụa

Hơn hai nghìn năm trước, phía tây bắc vương triều Đại Hán, men theo phía nam sa mạc Taklamakan có một vùng đất thần bí mỹ lệ. Nơi đó có vài chục địa khu cổ kính khác biệt, do một vị sứ giả nhà Hán tên là Trương Khiên trải qua nghìn trùng gian khó mà phát hiện ra.

Bí quyết người xưa có thể sống siêu thoát: Sống đơn giản, nuôi dưỡng tâm hồn

Tại sao thời hiện đại lại có nhiều người mắc phải những vấn đề về tinh thần như thế. Trong khi đó từ những áng thơ văn, thư pháp và hội họa của người xưa, chúng ta lại cảm thấy bất luận cuộc sống của họ có thuận buồm xuôi gió hay không, dù giàu hay nghèo, địa vị cao hay thấp, họ đều có thể làm cho tâm hồn luôn tự tại.

Tây Du Ký: Vì sao kiếp trước Đường Tăng tên là Kim Thiền Tử?

Nhắc đến Đường Tăng, rất nhiều người liên tưởng đến vị Thánh tăng trong “Tây Du Ký” – bộ tiểu thuyết trường thiên viết theo thể chương hồi do Ngô Thừa Ân sáng tác vào thời nhà Minh. Trong truyện kể rằng, Đường Tăng là đệ tử thứ hai của Phật Tổ, là La Hán Kim Thiền Tử chuyển sinh tại thế gian. 

Đạo lý sau câu chuyện thùng dầu

Con người thời nay, dường như không ai muốn trở thành kẻ ngốc, bởi vì người ngốc chắc chắn sẽ phải chịu nhiều thiệt thòi hơn người khôn khéo, nhiều lợi ích sẽ bị người khôn khéo lấy đi mất. Nhưng kết quả thực sự ra sao?

Dạy con sáng Đạo: Bài 15 – Tích thóc phòng đói

Xem lại: Dạy con sáng Đạo: Bài 14 – Tu thân giảm dục Tích thóc phòng đói, tích áo phòng lạnh Tiết kiệm thường đủ, trầm tĩnh thường an Cẩn phòng kẻ gian, nuôi con phòng lão Hiếu với mẹ cha, thì con hiếu lại Chữ Hán: 積榖防饑,積衣防寒 儉則常足,靜則常安 謹備防奸,養子防老 事親既孝,子亦孝之 Hán Việt: Tích cốc … Đọc tiếp

Võ thuật truyền thống chân chính là gì?

Từ “võ thuật” đã ăn sâu vào thâm tâm con người, văn hóa võ hiệp là một nét văn hóa độc đáo và lâu đời nhất trong văn hóa Á Đông. Nhiều người khi nghe đến võ thuật, họ nghĩ ngay đến võ hiệp, công phu, võ lâm v.v. Tuy nhiên, quan niệm của người hiện đại về văn hóa truyền thống hầu hết là mơ hồ hoặc có nhận thức sai lầm.

Hán Vũ Đế (Phần 6): Hoạch định sách lược – Đại chiến Hung Nô

Xem lại: Hán Vũ Đế (Phần 5): Trấn định biên cương, tấn công Hung Nô

Từ năm Nguyên Quang thứ 4 (năm 129 TCN) trở đi, Hán Vũ Đế bắt đầu triển khai giao tranh quân sự kịch liệt với Hung Nô ở các địa khu Long Thành, Nhạn Môn, Hà Nam, Mạc Nam. Trong đó, Vệ Thanh xuất thân thấp kém, nhưng dựa tài năng quân sự xuất chúng cùng phẩm đức liêm khiết cao thượng, lập nhiều công lao, làm quân Hung Nô điêu đứng, hiển dương uy lực Đại Hán, làm toàn quốc trên dưới đều phấn chấn. 

Vệ Thanh do có công lao to lớn mà được bái tướng phong hầu, xứng đáng là đệ nhất danh tướng của Hán Vũ Đế. Lúc này, còn xuất hiện một ngôi sao sáng nữa, ông là cháu ngoại Vệ Thanh, tên là Hoắc Khứ Bệnh. Hai vị đại tướng dũng mãnh liên thủ, quân đội Đại Hán như hổ thêm cánh, rong ruổi sa mạc nhiều lần đánh bại Hung Nô. Hai vị phò tá Hán Vũ Đế, giải quyết được mối lo uy hiếp biên cương mấy chục năm, thành tựu lên sự nghiệp võ công hiển hách một đời của Hán Vũ Đế.

Hai lần xuất quân Định Tương

Từ khi Hán Vũ Đế lên ngôi đến nay, Hán, Hung đã bốn lần giao chiến, do Vệ Thanh có tài tác chiến mà bốn lần đều thắng, làm Hung Nô không dám xem thường triều đình nhà Hán. Tuy nhiên Thiền Vu Y Trĩ Gia không cam chịu thất bại, không lâu sau phái hơn vạn kỵ binh xâm phạm Đại Quận, sát hại Đô úy Châu Anh, cướp đi hơn nghìn người. Mùa Xuân năm Nguyên Sóc thứ 6 (năm 123 TCN), Hán Vũ Đế quyết định, giao cho Vệ Thanh – vị đại tướng vừa nhậm chức, suất lĩnh 6 vị tướng lĩnh là Công Tôn Ngao, Lý Quảng, và các tướng khác, dẫn hơn 10 vạn kỵ binh theo hướng Định Tương tiến đánh Hung Nô. Trận này đại thắng quay về, Hung Nô đại bại, tổn thất nặng nề, ổn định suốt một dải Định Tương.

File:Jiuquan-09.JPG
Tượng điêu khắc Hoắc Khứ Bệnh
(Sigismund von Dobschütz/Wikimedia Commons)

Mùa thu năm ấy, Vệ Thanh lại một lần nữa xuất binh hướng Định Tương, vượt qua dải Âm Sơn, truy sát hơn vạn quân Hung Nô. Trong hai trận Định Tương, quân Hán đã tiêu diệt 1 vạn 9 nghìn kỵ binh Hung Nô. Ở hai chiến dịch này, quân Hán đã thay đổi cách tổ chức quân đội, kiến lập các đội quân trước, sau, trái, phải, do Vệ Thanh thống nhất chỉ huy, đồng thời trực tiếp chỉ huy quân cung nỏ, từ đó nâng cao năng lực hiệp đồng tác chiến. Đây là lần tổ chức quân đội nghiêm mật nhất trong các trận chiến với Hung Nô của Hán Vũ Đế.

Có hai điểm nổi bật, trong trận thứ hai này, vị đại tướng 17 tuổi – Hoắc Khứ Bệnh, lần đầu tiên xung trận. Ông dẫn 8 trăm kỵ binh, truy kích vài trăm dặm, truy sát hơn hai nghìn quân Hung Nô, giết cha của Thiền Vu Y Trĩ Gia, bắt chú của Thiền Vu là La Cô cùng nhiều tướng quốc, quan lại cấp cao Hung Nô, an toàn rút về. Hán Vũ Đế đánh giá công lao to lớn, phong làm Quán Quân Hầu, ban thực ấp 2 nghìn 5 trăm hộ.

Hoắc Khứ Bệnh trải qua chiến đấu cũng giống như Vệ Thanh, lần đầu xuất trận cũng nhất chiến thành danh, lập chiến công hiển hách. Ông tính cách cương nghị, trí dũng song toàn, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, trẻ tuổi đã nhập cung hầu cận Hán Vũ Đế. Trong trận chiến Định Tương, Hán Vũ Đế nhận định Hoắc Khứ Bệnh là tướng tài hiếm thấy, do vậy đã đề bạt đặc cách làm Phiêu Kỵ Hiệu Úy cầm quân ra trận. Quả nhiên là hậu sinh khả úy, không phụ trông đợi, đã thành một chiến tướng uy danh sát cánh bên Vệ Thanh.

Phần trước chúng ta đã nói tới năm Kiến Nguyên thứ 3 (năm 138 TCN), Trương Khiên nhà Hán lần đầu đi sứ Tây Vực, mười mấy năm bặt vô âm tín. Lần này ông xuất hiện trong đội quân với vai trò dẫn đường. Bởi ông thông thuộc địa hình, rõ cỏ cây nguồn nước, làm quân Hán tiến sâu vào hoang mạc mà không bị đói khát. Vậy trong những năm đó đã phát sinh việc gì đối với ông? Nguyên là khi vừa tới hành lang Hà Tây, thì bị Hung Nô câu lưu 10 năm, sau đó lưu lạc tới tộc Đại Nguyệt, nếm trải gian khổ cùng cực mới trốn thoát về nước vào năm Nguyên Sóc thứ 3 (năm 126 TCN). Từ đó, ông rong ruổi lưng ngựa thảo phạt Hung Nô. Do công lao dẫn đường, cùng công lao đi sứ Tây Vực trước đây, nên sau trận chiến ông được phong Bác Vọng Hầu. Câu chuyện về ông, chúng ta sẽ kể chi tiết ở phần sau.

Hai lần Hán Vũ Đế xuất quân Định Tương đánh Hung Nô, thu nhiều thắng lợi, đồng thời làm quân chủ lực của Hung Nô phải rút về phía bắc sa mạc, tránh xa khỏi biên cương nhà Hán. Đây cũng là yếu tố quan trọng để Hán Vũ Đế triển khai chiến dịch Hà Tây dành thắng lợi sau này.

Trận chiến Hà Tây

Hà Tây, cũng gọi “Hành lang Hà Tây”, do ở bờ tây Hoàng Hà mà có tên như vậy, thời Tây Hán là chỉ địa danh Vũ Uy, Trương Dịch, Tửu Tuyền của Cam Túc ngày nay, là con đường duy nhất nối nội địa với Tây vực, có vị trí chiến lược trọng yếu. Khi ấy, hành lang Hà Tây bị Hung Nô khống chế, uy hiếp sát sườn Hán triều. Để đả thông huyết mạch nối Tây Vực, tăng cường quan hệ với các nước Tây Vực đồng thời củng cố địa khu phía tây, Hán Vũ Đế cho triển khai chiến dịch Hà Tây, lần nữa thể hiện tầm nhìn chiến lược của mình.

File:China Han Dynasty 1.jpg
Cương vực đồ thời Hán Vũ Đế.
( Kallgan/Wikimedia Commons)

Năm Nguyên Thú thứ nhất (năm 122 TCN), một vạn quân Hung Nô ào ào kéo tới, tàn sát mấy trăm người ở Thượng Cốc. Mùa Xuân năm sau, Hán Vũ Đế tổ chức phản công, nhậm mệnh viên tướng mới 20 tuổi – Hoắc Khứ Bệnh, làm Phiêu Kỵ tướng quân, xuất chinh Hà Tây, truy tìm quân đội Hung Nô quyết chiến. Phiêu Kỵ tướng quân có cấp bậc ngang Đại tướng quân, chức vụ lớn như vậy kiến không ít đại thần kinh động. Vài vị tướng chinh chiến lâu năm cho rằng đem cánh quân cô độc như vậy tiến sâu đất địch là rất nguy hiểm, nhưng Hán Vũ Đế nhận định, để đối phó Hung Nô cần dùng kỳ tướng, xuất kỳ binh.

Hoắc Khứ Bệnh quả nhiên không phụ kỳ vọng của Hán Vũ Đế. Ông dẫn 1 vạn kỵ binh tinh nhuệ tới Lũng Tây (nay là Lâm Thao, Cam Túc ), vượt Yên Kỳ Sơn ( nay là Đại Hoàng Sơn, Sơn Đan, Cam Túc), tấn công Hung Nô ở hành lang Hà Tây. Ông dùng cách đánh đột kích, thọc sâu hơn nghìn dặm vào lãnh địa của Hưu Đồ Vương, Hung Nô, đại chiến 6 ngày. Tiếp đó kịch chiến với Hung Nô ở chân núi Cao Lan, đánh thắng liên tiếp, tiêu diệt gần 9 nghìn địch quân. Trảm sát Chiết Lan Vương, Lư Hầu Vương, bắt sống Vương tử Hồn Tà cùng nhiều tướng quốc, Đô úy làm tù binh, đến người bằng vàng mà Hưu Đồ Vương dùng tế Trời cũng bị Hoắc Khứ Bệnh thu làm chiến lợi phẩm mang về.

Chiến dịch này đã làm Hung Nô tổn thương trầm trọng. Hán Vũ Đế hết sức vui lòng. Để kỷ niệm trận này, ông mang người vàng đặt ở cung Cam Tuyền, đồng thời phong thưởng lớn cho Hoắc Khứ Bệnh. Hán Vũ Đế còn dự định xây một biệt phủ lớn cho vị dũng tướng trẻ tuổi này, nhưng Hoắc Khứ Bệnh cự tuyệt, ông nói: “Hung Nô vị diệt, hà dĩ gia vi?” (Hung Nô chưa diệt, sao có thể làm nhà như vậy?), Hoắc Khứ Bệnh thường ngày trầm mặc ít lời, nhưng câu nói này của ông chứa đựng tráng chí ngút trời, đã trở thành danh ngôn thể hiện lòng yêu nước lưu truyền thiên cổ.

Hán Vũ Đế còn dự định xây một biệt phủ lớn cho vị dũng tướng trẻ tuổi này, nhưng Hoắc Khứ Bệnh cự tuyệt. (Tranh: Winnie Wang – Secretchina)

Mùa hè năm đó, để đánh đuổi triệt để Hung Nô ra khỏi hành lang Hà Tây, Hán Vũ Đế đã dùng hai đạo quân tiến đánh. Hoắc Khứ Bệnh lại thống lĩnh quân chủ lực xuất kích, mở ra chiến trường phía Tây. Quân đội phía Đông sẽ phối hợp tác chiến với quân chủ lực, do Trương Khiên và Lý Quảng từ Hữu Bắc Bình chia đường xuất phát, tiến đánh Tả Hiền Vương. Kết quả chiến sự không thuận lợi, 4 nghìn quân tiên phong của Lý Quảng bị 4 vạn địch quân bao vây, tử thương quá nửa. Tuyến phía tây của Công Tôn Ngao thì bị chậm trễ. 

Cũng may là còn đội kỵ binh của Hoắc Khứ Bệnh liên tiếp thắng trận. Ông dẫn quân từ Tây Bắc hướng sang Đông Nam xuất kích, thâm nhập chiến địa nghìn dặm, tấn công lãnh địa của Hưu Đồ Vương, Hồn Tà Vương. Dưới chân Kỳ Liên Sơn, Hoắc Khứ Bệnh triển khai quyết chiến với chủ lực Hung Nô, diệt hơn 3 vạn địch quân, bắt vương tướng Hung Nô làm tù binh, tất cả trên 70 người, Tướng quốc, Đô úy dẫn hơn 2 nghìn quân đầu hàng.

Sau đó, Hưu Đồ Vương không chịu đầu hàng, bị Hồn Tà Vương Hung Nô hạ sát, mang 4 vạn quân hàng Hán. Quân Hán giành thắng lợi quyết định. Đối với quân Hung Nô đầu hàng, Hán Vũ Đế cũng đối xử rất rộng lượng. Ông phong cho Hồn Tà Vương làm Vạn Hộ Hầu, đây là cấp cao nhất trong chức Hầu của nhà Hán, ngang hàng với Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh, phong các tiểu vương khác làm Liệt Hầu, ban thưởng nhiều tài vật.

Thắng lợi Hà Tây lần này, làm các vị đại thần tâm phục khẩu phục, ca ngợi Hán Vũ Đế dùng người chính xác, có tâm kiên định trong việc dùng người. Vị tướng quân trẻ tuổi Hoắc Khứ Bệnh cùng Vệ Thanh đều được tôn vinh. Hung Nô bị hủy diệt ở chiến trường phía Tây, họ không những tổn thất ba phần mười binh lực, mà sĩ khí cũng rơi rụng sạch, sẽ khó hồi phục trong thời gian dài.

Mặt khác, sự thống trị của Hán triều nối dài sang địa khu Hà Tây, biên cương cũng mở rộng dọc hành lang Hà Tây và lưu vực sông Hoàng Thủy, nay là phía đông hồ Thanh Hải, đông bắc Kỳ Liên Sơn. Hán triều trước sau thiết lập 5 quận Tửu Tuyền, Vũ Uy, Trương Dịch, Đôn Hoàng, Kim Thành. Hán Vũ Đế còn thu xếp cho 4 vạn người Hung Nô đầu hàng về các quận, tôn trọng phong tục tập quán cùng chế độ xã hội của họ, để họ bảo trì tối đa tính độc lập, lịch sử gọi là “Ngũ thuộc quốc” (5 quốc gia phụ thuộc). Người Khương sống tập trung ở lưu vực Hoàng Thủy cũng bị đuổi dạt về địa khu Canh Tây, liên hệ giữa họ và Hung Nô bị cắt đứt. Cánh cửa lớn nối Trung Nguyên và Tây Vực được mở rộng, Hán Vũ Đế đã thực hiện được việc “Chặt tay phải của Hung Nô”, tạo đà cho việc tấn công Hung Nô trên quy mô lớn.

Đọc tiếp