Xem lại Phần 1
Phía sau các bức tượng
Ngoài các bức tranh bàn thờ và cửa sổ kính màu, một trang trí khác của nhà thờ là các tác phẩm điêu khắc. Nghệ thuật điêu khắc Gothic chủ yếu được phản ánh trong các tác phẩm điêu khắc cao và chạm nổi, có thể thể hiện một hiệu ứng độ sâu và độ nét nhất định, để nâng cao cảm giác về không gian của nhà thờ. Về tổng thể, các tác phẩm điêu khắc thời đó chỉ là phần phụ của kiến trúc, chẳng hạn, nhiều nơi như cổng hay cửa sổ của nhà thờ thông thường đều có sự chung sức của các nhà điêu khắc và kiến trúc sư.
Về lý, các bức điêu khắc trong nhà thờ nên là những tác phẩm thuần túy về chủ đề tôn giáo. Tuy nhiên, nghiêm khắc mà nói thì vẫn có những tác phẩm không thuộc về Cơ đốc giáo (còn gọi là Kitô giáo) thuần túy. Trong các tòa kiến trúc tôn giáo như Nhà thờ chính tòa Đức Bà Paris (Cathédrale Notre-Dame de Paris) và Nhà thờ chính tòa Đức Bà Chartres (Cathédrale Notre-Dame de Chartres), có thể nhìn thấy các tác phẩm điêu khắc của 7 môn nghệ thuật và các chủ đề khác. Đây là những thứ thuộc về một nền văn hóa cổ khác chứ không phải văn hóa Cơ đốc giáo.

“Bảy Nghệ thuật Nhân văn” hay còn gọi là “Bảy Nghệ thuật Tự do” (Les sept Arts liberaux), là bảy môn học mà một công dân phương Tây tự do trong xã hội cổ đại nên học. Các trường đại học thời Trung cổ dần dần xuất hiện vào thế kỷ XII và XIII ở Châu Âu. Trong trường, ba môn cơ bản được dạy đầu tiên là: Ngữ pháp học, Tu từ học và Phép biện chứng, được gọi là “Trivium” (Tam khoa). Trên cơ sở này, các giáo sư đại học sẽ dạy bốn môn khác bao gồm Số học, Âm nhạc, Hình học và Thiên văn, được gọi là “Quadrivium” (Tứ khoa). “Tam khoa” và “Tứ khoa” tựu chung gọi là “Thất nghệ”, sau khi hoàn thành 7 môn này, sinh viên có thể học thêm các khóa học nâng cao như Triết học và Thần học.
Tuy nhiên, dù là Thất nghệ hay Triết học, chúng đều không xuất hiện từ thời Trung cổ, mà bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của thời đại Hy Lạp cổ; còn nói về Thiên văn, Tinh tượng (vị trí và độ sáng của các vì sao) thì thậm chí còn bắt nguồn từ thời đại viễn cổ xa xưa hơn. Nói một cách nghiêm khắc thì chúng không liên quan gì đến Cơ đốc giáo.
Lấy triết học làm ví dụ, ban đầu nó là một cách nhận thức về thế giới, về vũ trụ và chân lý ở thời Hy Lạp cổ, có phần giống với phương pháp tu luyện của Phật gia và Đạo gia ở phương Đông. Trong giới học thuật phương Tây luôn có không ít các nhà sử học và nhà triết học nổi tiếng cho rằng, triết học thời đó của Hy Lạp cổ không phải là những học vấn mà con người ngày nay nhận thức được, mà nó chính là một loại tu luyện tinh thần (Exercice Spirituel). Đây là phép suy lý khi so với pháp môn tu luyện do Phật Thích Ca Mâu Ni và Lão Tử truyền xuất ra. Có thể thấy, điều này khác xa với khái niệm “triết học” trong suy nghĩ của chúng ta ngày nay.
Một số môn phái tu hành và pháp môn tu luyện được lưu truyền từ thời Hy Lạp cổ (những thứ mà ngày nay người ta cho rằng là trường phái triết học) có sức sống mạnh mẽ, vì trí huệ mà chúng truyền tải vượt quá cả kiến thức thông thường trên thế gian. Ngay cả trong thời đại Cơ đốc giáo thống trị Châu Âu, ngọn lửa tu hành thời cổ đại vẫn chưa bị dập tắt. Bởi vì dưới truyền thống văn hóa huy hoàng của Hy Lạp cổ, lối tư duy theo kiểu triết học đã ăn sâu vào máu của người Châu Âu.
Ngay từ những ngày đầu khi một số nhà truyền giáo kết hợp triết học Hy Lạp cổ để chứng minh cho tính hợp lý của giáo lý Cơ đốc giáo, cho đến một số Cơ đốc nhân sau này cố gắng chứng minh sự vĩ đại của Thượng Đế bằng cách tìm tòi những điều bí ẩn của đại tự nhiên, những hành vi này đã vô tình phá hoại sự đơn thuần vốn có trong giáo lý tôn giáo của họ, cho phép các tư tưởng hỗn tạp bên ngoài trộn lẫn vào, dẫn đến niềm tin tôn giáo không còn thuần túy. Khi phương pháp tu hành của một tôn giáo bị trộn lẫn với các phương pháp tu luyện khác, bản thân tôn giáo đó sẽ bị suy yếu.
Các ngành khác như thiên văn học cũng theo logic như vậy. Con người ở thời đại công nghệ kém phát triển không có những khái niệm thiên văn học như khoa học hiện đại ngày nay. Ngành thiên văn học lúc bấy giờ ngoại trừ một lượng nhỏ nghiên cứu về thiên văn, thì chủ yếu là Tinh tượng học, hay còn gọi là Chiêm tinh học, nói theo cách thông thường thì dùng để toán mệnh. Vua chúa các nước hầu như đều tin vào Thiên tượng và vận mệnh, trong cung đình cũng có các nhà chiêm tinh hỗ trợ quân vương đưa ra quyết định, vua chúa cũng tài trợ cho nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Chúng ta đều biết rằng các ngôi sao trên bầu trời đều có tên. Ví dụ, chòm sao Jupiter (Sao Mộc) là tên của Vua của các vị Thần trong Thần thoại La Mã cổ; chòm sao Venus (Sao Kim) là tên của Nữ Thần Tình yêu và Sắc đẹp trong Thần thoại La Mã cổ. Hầu hết tên của các chòm sao có nguồn gốc từ các vị Thần, hoặc các nhân vật và động vật trong Thần thoại Hy Lạp cổ. Còn 12 cung hoàng đạo nổi tiếng lại có liên hệ trực tiếp đến các yếu tố tôn giáo của thời kỳ sớm hơn nữa – thời Babylon cổ…
Rõ ràng, một tín đồ Cơ đốc giáo suốt ngày đọc tên các vị Thần trong một hệ khác để nghiên cứu chiêm tinh học là điều không tốt. Vì vậy, từ thế kỷ VI đến thế kỷ XII, trong các khu vực do giáo hội thống trị đã đặt ra rất nhiều hạn chế đối với những thứ này.
Tuy nhiên, cần phải chỉ ra rằng, nếu một sự vật hoàn toàn không có tác dụng gì hoặc là thứ giả thiết không có thật, nó sẽ không có lực sống để song hành cùng lịch sử. Cũng là nói, nếu thuật chiêm tinh hoàn toàn không có tác dụng bói toán hoặc chỉ là thủ thuật để lừa người, vậy nó sẽ không thể tồn tại hàng nghìn năm cho đến ngày nay.
Đồng thời, theo dòng chảy thời gian của lịch sử, giới luật hoặc quy tắc trong tôn giáo cũng bị buông lỏng và suy yếu, thêm vào đó là các kết quả nghiên cứu dẫn đầu về chiêm tinh học của thế giới Hồi giáo, Đế quốc Byzantine (Đế quốc Đông La Mã) cũng ngày càng dành sự quan tâm cho tinh tượng, cũng như sự thừa nhận trong các tài liệu tòa án hoàng gia của quan chức một số nước phương Tây, những thứ văn hóa hoàn toác khác biệt với tôn giáo Cơ đốc cuối cùng lại hưng thịnh trở lại ở Châu Âu.
Có thể thấy, một số thứ chạm khắc trong các công trình tôn giáo Cơ đốc là đại diện của nền văn hóa khác. Nó phản ánh tình trạng tín ngưỡng lúc này không còn thuần túy như thuở ban sơ, mà cần có tri thức bên ngoài và lý tính của con người làm phụ đạo. Cách truy cầu từ bên ngoài như vậy kỳ thực không phù hợp với truyền thống nguyên thủy “tu hành nội tâm” của Cơ đốc giáo. Nó khiến sự chú ý của mọi người dần hướng đến cuộc sống hiện thực và những vật ngoài thân.
Về sau nó dần phát triển thành tình trạng, con người muốn chứng minh ân điển của Thần thông qua những thành tựu đạt được ở thế gian, chứ không phải chỉ dựa vào sự tịnh hóa của nội tâm. Những tác phẩm điêu khắc này đã ghi lại một cách trung thực sự suy yếu dần của Thần tính trong tư tưởng của con người, cũng như quá trình nhân tính và những thứ thế tục dần chiếm thế chủ đạo.
Hội họa theo trường phái kiểu cách
Thời kỳ Phục hưng huy hoàng và lộng lẫy như từ trên trời rơi xuống. Màn tái hiện của nền nghệ thuật chính thống, trưởng thành và ở thời kỳ đỉnh cao trong lịch sử nhân loại lần này giống như một tiếng chuông thần thánh, trang nghiêm, vang dội cổ kim.
Sau khi thời kỳ Phục hưng kết thúc, ánh hào quang của nó vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ đến lịch sử nghệ thuật nhân loại trong hơn 200 năm. Nó đã truyền tải những yếu tố nghệ thuật và nội hàm văn hóa chính thống mà Thần truyền cấp cho con người. Tuy nhiên, ý nghĩa và các nhân tố xuất hiện trong quá trình phát triển của lịch sử không bao giờ là đơn nhất, trong Âm – Dương cân bằng không thể nào chỉ có các nhân tố chính diện, tích cực, sự xâm nhập của văn hóa đương nhiên cũng có mặt phụ diện, tiêu cực của nó. Kỳ thực, mọi thứ ở thế gian con người đều luôn như vậy. Đặc biệt là sau thời kỳ Phục hưng, những nhân tố phụ diện ngày càng bộc lộ nhiều hơn.
Thời gian trôi đi, Leonardo da Vinci, một trong ba bậc thầy vĩ đại của thời kỳ Phục hưng, đã qua đời tại Pháp vào năm 1519. Một năm sau, Raphael, một bậc thầy hội họa khác, biểu tượng đỉnh cao của nghệ thuật thời Phục hưng, cũng rời bỏ thế gian ở Rome. Sự ra đi của hai bậc thầy khiến mọi người hoài niệm, thương tiếc, nhưng cũng là mốc đánh dấu thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật Phục hưng Ý bắt đầu đi xuống. Kiếp nạn của Rome vào năm 1527 được giới sử học xác định là sự kết thúc của thời kỳ hoàng kim.
Mặc dù một trong ba bậc thầy Phục hưng còn lại – Michelangelo – vẫn còn sống, nhưng, sở trường của ông là những tác phẩm điêu khắc, và chỉ có mình ông thì không thể cứu vãn cỗ xe Phục hưng đang lao xuống dốc. Những năm tháng chiến tranh, sự hủ bại của giáo hội, nền kinh tế đình trệ, cùng với nhân tâm khó lường, và nhiều yếu tố phụ diện khác đã dần thay đổi tư tưởng và tâm thái của giới nghệ sĩ thời bấy giờ, đồng thời cũng làm thay đổi diện mạo của nghệ thuật.
3 bậc thầy Phục hưng, từ trái sang phải: Leonardo da Vinci, Raphael, Michelangelo. (Ảnh 1: Frederic Lewis/Getty Images; Ảnh 2 và 3: Public Domain)Vào thời điểm đó, nước Ý tôn sùng nhất là nền văn hóa Hy Lạp cổ. Văn hóa này rất coi trọng những khải phát đến từ lý tính của con người, tức là thông qua lý trí của con người mà nắm bắt chân lý, giá trị và ý nghĩa của một cuộc sống hoàn mỹ. Mặc dù loại tư tưởng này hưng khởi vào thời kỳ Phục hưng, nhưng nó cũng có lịch sử của nó.
Như đã đề cập trước đó, trong thời kỳ đầu của Cơ đốc giáo, một số nhà truyền giáo đã cố gắng kết hợp triết học Hy Lạp cổ và La Mã cổ để chứng minh cho tính hợp lý của giáo lý của họ. Qua đó, hình thành nên Triết học của các cha giáo lý (Patristic philosophy), và sau đó là Triết học kinh viện (Scholasticism) phát triển vào thời Trung cổ. Mặc dù bị pha lẫn với những nhân tố cổ đại không thuộc Cơ đốc giáo, nhưng vì những nhân tố này và những lý luận của tôn giáo đã trải qua sự mài giũa và hợp nhất của lịch sử, nên chúng cũng được giáo hội công nhận là một sản phẩm trong hệ của mình. Vì vậy mọi người đã quen với việc chứng minh các giáo lý tôn giáo thông qua lý tính và các quan điểm triết học.
Khi tình hình hỗn loạn, tình trạng hủ bại, thậm chí dâm loạn trong giáo hội ngày càng không được lòng dân, niềm tin của mọi người vào Thần bị suy yếu. Người ta trở nên coi trọng cuộc sống hiện thực, lý tính và ý thức của chính mình hơn. Xưa kia, con người tôn sùng việc đề cao phẩm hạnh và đạo đức để thành kính chờ đợi sự cứu rỗi của Thượng Đế. Nhưng mọi thứ đã thay đổi, tư tưởng của con người dần phát triển thành coi trọng giá trị cá nhân hơn, nhấn mạnh vào sự phát triển của bản thân, dùng đạo lý của con người và sự chủ động của chính mình để thay đổi hoàn cảnh hiện thực. Do đó, các nhân tố Thần tính và tín ngưỡng luôn được nhìn thấy trong tác phẩm của các nghệ thuật gia đã bị giảm bớt, dần thay vào đó là thể hiện xu hướng chủ nghĩa hưởng lạc và nhân tính hóa.
Khi những thứ thuộc về nhân tính, thế tục hóa lấp đầy tâm trí người nghệ sĩ, cái lý tính ban đầu dần nhường chỗ cho cảm xúc của nhân tính, nó không còn lý trí như trước. Đồng thời, trong sự cạnh tranh khốc liệt của ngành nghề, các nghệ sĩ đều đang tìm kiếm những phong cách độc đáo vượt trội hơn những người đi trước. Để giành được sự xem trọng của người mua, họ lại phải đáp ứng thị hiếu không ngừng thay đổi theo trào lưu. Hơn nữa, sự phát triển của thị trường nghệ thuật ở thế kỷ XVI cũng khiến việc nhận được sự khen ngợi của các nhà phê bình và sự chú ý của các nhà kinh doanh nghệ thuật ngày càng trở nên quan trọng.
Các yếu tố trên đã dẫn đến sự xuất hiện của nhiều thủ pháp sáng tác ngày càng khác so với các phương pháp sáng tạo của thời kỳ Phục hưng trước đó. Chúng dần dần đi xa khỏi nguyên tắc chân thực trong hội họa của Leonardo da Vinci và vẻ đẹp hài hòa cổ điển của Raphael. Nó đã hình thành nên phong cách đối lập với chủ nghĩa cổ điển ban đầu của thời kỳ Phục hưng đỉnh cao, hậu thế gọi đó là “Manierisme” (trường phái kiểu cách).
Cần phải chỉ ra rằng, “Manierisme” là một thuật ngữ không rõ ràng trong giới học thuật đời sau, không có một khái niệm chính xác được giới học thuật công nhận chung, vì vậy các họa sĩ Mannerism khác nhau cũng có những phong cách độc đáo của riêng họ. Mặc dù các họa sĩ cố vắt óc tạo ra những hiệu ứng thị giác mới lạ để vượt qua các bậc thầy của thời kỳ Phục hưng, nhưng nghệ thuật không chỉ giới hạn ở hình thức bên ngoài, mà còn bao gồm cả phong thái và diện mạo tinh thần cũng như nội hàm tư tưởng mà nghệ sĩ muốn thể hiện trong các tác phẩm của mình. Thông qua hình thức nghệ thuật hoàn mỹ được hun đúc qua muôn vàn thử thách, người nghệ sĩ có thể biểu lộ lý giải của bản thân về nghệ thuật và ước vọng theo đuổi vẻ đẹp thần thánh.

Vẻ đẹp nội tại ấy có thể biểu hiện qua các yếu tố thị giác bên ngoài như bố cục hài hòa, hình thể chính xác, màu sắc chân thực… Nhưng nếu ngay từ các yếu tố thị giác cơ bản bên ngoài đã sai lệch thì không thể nào toát ra tinh thần cao quý bên trong. Cho nên thể hiện cái “mới lạ” thông qua hình thể biến dị không khác gì việc uống thuốc độc giải khát. Bởi vì xét từ góc độ tâm lý của khán giả, sự tươi mới tức thì do hình thể người biến dị trong tranh mang lại sẽ không lâu dài, người ta sẽ sinh lòng phản cảm. Nói đơn giản thì một bức tranh vẽ không giống sẽ làm người ta cảm thấy khó chịu theo bản năng. Vì vậy, những tác phẩm này cuối cùng đã không mấy nở rộ trong lịch sử nghệ thuật.
Trong thời đại không có máy ảnh, tranh chân dung mang chức năng ghi hình, và vẽ giống là quy tắc đầu tiên. Thử tưởng tượng nếu ai đó yêu cầu một nghệ sĩ vẽ anh ta, nhưng người nghệ sĩ vì muốn đạt được một “phong cách” mới lạ nên đã dùng thủ pháp thấu thị để vẽ, trông như thể đầu hoặc cơ thể của người đó bị bóp méo. Có ai muốn trả tiền cho một bức tranh chân dung như vậy không? Bản năng thị giác của con người là muốn nhìn thấy những tác phẩm vẽ như thực. Vì vậy, những phong cách có chút đột biến kia không tồn tại được lâu và dần mai một.
Diễn giải nghệ thuật khỏa thân
Do quyền lực của giáo hội bị suy yếu và vương quyền thế tục được đề cao, các nhà tài trợ cho thị trường nghệ thuật không còn chủ yếu là giáo hội và các hệ thống liên quan của nó như trước kia. Vì vậy, các chủ đề và loại hình nghệ thuật thời này phong phú hơn nhiều so với các tác phẩm hội họa hay điêu khắc tôn giáo nguyên thủy. Chân dung, lịch sử, phong tục, thần thoại Hy Lạp và các chủ đề khác bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật. Vào thời điểm này, thị hiếu thẩm mỹ của các gia đình hoàng gia cũng thế tục hơn so với thời Trung cổ. Các nghệ sĩ đã nhân cơ hội này để giới thiệu nghệ thuật khỏa thân vốn phổ biến ở Ý đến các quốc gia tương đối bảo thủ khác.